Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2009

06. CÁCH LÀM CỎ TRÊN ĐẤT TRỒNG CÂY MĂNG TÂY


Trồng cây Măng tây trên diện tích lớn, làm cỏ bằng tay sẽ tốn nhiều công sức và mất rất nhiều thời gian. Cần chủ động tính trước việc làm cỏ ngay từ khi chuẩn bị đất trồng, để có thể sử dụng máy làm cỏ kết hợp xới xáo đất (có thể tự chế), máy xẻ rãnh bón phân và lấp rãnh bón phân (có thể tự chế) về sau:

- Từ khi chuẩn bị đất trồng, cần làm cỏ thật sạch, phun thuốc diệt mầm cỏ thật kỹ, kết hợp phòng ngừa sâu bệnh.

- Khi chuẩn bị liếp trồng, cần căng dây lấy mực để xẻ rãnh, lên liếp, trồng cây cho thẳng hàng cách nhau 100 cm (mặt liếp đất trồng) và 20 cm (mặt rãnh thoát nước). Biện pháp này sẽ giúp ích rất nhiều cho việc làm cỏ bằng máy làm cỏ kết hợp xới xáo đất (có thể tự chế), đồng thời tạo đường đi thuận lợi để dùng máy xẻ rãnh bón phân và lấp rãnh bón phân (có thể tự chế), chăm sóc cây và vận chuyển măng thu hoạch sau này.

- Sau khi trồng, trước mỗi định kỳ bón phân 15 ngày/lần, cần làm cỏ thường xuyên, dứt điểm ngay từ khi cỏ còn non, không để cỏ già rơi hạt tái sinh ra lớp cỏ con cháu. Trong mùa mưa tuyệt đối không nên dùng rơm, trấu, mạt cưa,... chưa xử lý mầm bệnh (bằng sulfat đồng hoặc nước vôi) để phủ gốc thay việc làm cỏ.

- Trong thời gian mới trồng từ 1-5 tháng tuổi, do cây còn nhỏ nên bộ rễ chưa phát triển rộng, để hạn chế cỏ người trồng có thể dùng bạt nilon hoặc dùng mạt cưa, trấu, tro trấu đã xử lý mầm bệnh, hoặc trồng rau ăn lá phủ gốc cây măng. Nhưng cần nhớ, khi bộ rễ cây trưởng thành đã trải rộng ra 50-70-90 cm và cây đã cho thu hoạch măng thì không nên dùng bạt nilon phủ gốc để khử cỏ nữa, vì như vậy sẽ vô tình ngăn cản sự quang hợp của ánh nắng mặt trời và phong toả dưỡng khí hô hấp của bộ rễ, phá hỏng sự phát triển bình thường của bộ rễ và các chồi măng non, ảnh hưởng nặng nề sự phát triển của cây măng về sau, hậu quả có khi phải huỷ bỏ cả vườn măng, rất khó lường trước!!

- Sau mỗi lần bón phân, cần lấy lớp đất mặt hai bên mép liếp vun cao 10 cm đậy gốc bảo vệ cổ rễ cây măng, giữ cây đứng thẳng, đồng thời tạo độ dốc nghiêng về 2 mép liếp để thoát nước tưới. Cách làm này cũng giúp ích rất nhiều cho việc kiểm tra và hạn chế cỏ dại.

- Cũng có thể cẩn thận dùng thuốc diệt cỏ và sâu hại cây măng trong giai đoạn tạm ngưng thu hoạch măng chờ dưỡng cây mẹ thay thế. Chú ý sử dụng thuốc diệt cỏ và bảo vệ thực vật đúng hướng dẫn theo nguyên tắc “4 đúng” và theo tiêu chuẩn xuất khẩu VietGAP hoặc GlobalGAP, không để dư lượng thuốc ảnh hưởng chồi măng và làm mất sức cây măng, đồng thời phải bảo đảm thời gian cách ly đúng quy định bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Tuy nhiên, chỉ có một số loại thuốc trừ cỏ có thể dùng được cho cây Măng tây như: Napropamide, Dual, Whips, Onecide, Trifluralin, Agropac, Fagon, Terbacil, Dicamba…

+ Lưu ý: Cần phải hết sức thận trọng khi dùng thuốc diệt cỏ và thuốc bảo vệ thực vật, vì chồi Măng tây xanh rất nhạy cảm khi tiếp xúc với các loại thuốc độc hại này.

07-08-09. CÁCH KÍCH THÍCH TRỔ NHIỀU MĂNG TÂY XANH

07.
CÁCH CẮM CỌC GIĂNG DÂY
CHỐNG ĐỔ NGẢ CÂY MĂNG TÂY


Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của mình, cây Măng tây sẽ cao lớn, tăng dần số lượng hàng chục thân cây trên một bụi, lứa thân cây thời gian sau sẽ to hơn lứa thân cây thời gian trước, và cây sẽ bung tàn cành lá sum suê có thể rộng đến 1 mét, rất dễ làm đổ ngả cây trồng khi gặp mưa to, gió lớn. Để giữ cây măng đứng thẳng, cần phải giăng dây chống đổ ngả cây.

+ Cách làm: Ngay sau khi trồng cây ra đất sản xuất, trên cùng một hàng với cây đã trồng (chen giữa các cây măng), tiến hành cắm các cọc tre đường kính khoảng 5 cm, cao 120 cm, cách nhau 3-4 mét, rồi dùng dây cước nilon bền chắc (chịu được mưa nắng ít nhất 2-3 năm) giăng thành một hàng đôi cao cách mặt liếp khoảng 20-30 cm để kẹp lỏng cây măng vào giữa đôi dây. Sau đó, tuỳ theo độ cao và lớn theo sự phát triển của cây, có thể giăng thêm dây, hoặc nâng dần đôi dây lên các độ cao khoảng 50 cm, 75 cm, 90 cm,... để giữ cây măng luôn đứng thẳng.


Đứng thẳng là tư thế thuận lợi nhất giúp cho cây Măng tây có thể tiếp nhận đầy đủ, trọn vẹn ánh nắng toàn phần để quang hợp với bộ lá tạo ra năng lượng hữu cơ tổng hợp nuôi dưỡng cây phát triển nhanh chóng bộ gốc, bộ rễ và cho thu hoạch nhiều măng chất lượng cao.

+ Lưu ý: Khi giăng dây chống đổ ngả cây, không nên để dây ôm siết chặt thân măng mà cần phải giữ khoảng trống cần thiết cho 4-6 thân cây mẹ có thể phát triển tự do trong phạm vi đường kính khoảng 30-50 cm để cây trưởng thành có đủ chỗ trống cần thiết bung rộng tàn cành lá sum suê để quang hợp ánh nắng toàn phần tạo ra năng lượng hữu cơ tổng hợp nuôi dưỡng cây và bộ rễ cây măng..

08.
CÁCH KÍCH THÍCH TRỔ NHIỀU MĂNG


Như trên đã nói, ở thời điểm sau khi trồng khoảng 135 ngày (4,5-5 tháng), khi quan sát thấy đường kính gốc thân cây mẹ đạt >10-12 mm (lớn hơn điếu thuốc lá, cỡ gần bằng ngón tay út) + lá cây mẹ chuyển sang màu xanh đậm là những dấu hiệu cho thấy cây sắp đến thời kỳ cho măng thu hoạch.


Ngay lúc này, để kích thích cây Măng tây phát triển nhanh chóng và trổ nhiều chồi măng, cần phải tiến hành cắt hạ bớt ngọn cây măng ở độ cao 1m20 + xới đất làm sạch cỏ non, bón thúc 400 kg NPK 21-7-14 + vun đất cao 5-10 cm đậy gốc bảo vệ cổ rễ, giữ cây đứng thẳng, dưỡng cành lá cây măng thật sum suê để lấy nắng toàn phần quang hợp với bộ lá tạo năng lượng hữu cơ tổng hợp dinh dưỡng nuôi cây + tỉa bỏ cây bị sâu bệnh, cây già, cây nhỏ và cành lá phát sinh ở phần gốc khoảng 40-50 cm để thông gió phòng tránh bệnh hại + phun thuốc phòng ngừa nấm bệnh, sâu hại cây.

Làm như vậy sẽ giúp cho cây mẹ nhanh chóng phát triển bộ gốc và bộ rễ, tạo ra điều kiện cơ bản để cây măng tăng thêm năng suất, chất lượng măng thu hoạch lứa sau nhiều hơn, cao hơn lứa trước.

09.
CÁCH BẢO VỆ CÁC LÁ ĐÀI NON VÀ TẠO RA
CÁC CHỒI MĂNG ĐẸP NGỌN CHO CÂY MĂNG TÂY


Phần ngọn khoảng 10 cm trên đầu các chồi măng có phân bố các lá đài non rất mẫn cảm với nước và đất, cát. Nước mưa, nước tưới hoặc đất, cát nếu lọt vào ứ đọng bên trong các lá đài non sẽ làm hư thối các lá đài non, làm hỏng chồi măng hoặc làm giảm chất lượng, mất giá trị thương phẩm của Măng tây xanh.


Khi các chồi măng non xuất hiện trên đất trồng cao khoảng 5-6 cm, cần phải dùng màng nhựa nilon tạo ra các mũ hình chóp nón cao khoảng 6-8 cm làm nón úp ngược như nón lá chụp trên đầu chồi măng để bảo vệ các lá đài non + kềm hãm sự phát triển già hóa của các lá đài + góp phần hạn chế, làm chậm sự già hóa của chồi măng.

Làm như vậy sẽ bảo vệ được các lá đài non không bị thối hỏng và tạo ra được các chồi măng đẹp ngọn, có giá trị thương phẩm cao.

10. CÁCH THU HOẠCH & PHÂN LOẠI SẢN PHẨM MĂNG TÂY XANH

a. Thu hoạch sản phẩm Măng tây xanh:

Việc thu hoạch sản phẩm Măng tây xanh khá đơn giản. Người trồng có thể tận dụng lao động nhàn rỗi, lao động nữ, lao động lớn tuổi để thu hoạch và sơ chế sản phẩm, giao hàng theo các điều kiện hợp đồng với đơn vị thu mua. Khi quan sát thấy các chồi măng đã nhô lên cao khỏi mặt đất khoảng 22-25 cm là lúc cần phải thu hoạch ngay để có được sản phẩm Măng tây xanh tươi giòn, chất lượng cao (không kéo xơ).

Thời gian thu hoạch sản phẩm Măng tây xanh thông thường từ 5g30-8g30 sáng mỗi ngày, trước khi mặt trời mọc, khi măng chưa tiếp xúc với ánh nắng để tránh bị héo, mềm yểu nhanh sau thu hoạch. Chọn các chồi măng đã đạt chiều cao >25 cm (loại 1) và >22 cm (loại 2) theo quy cách hợp đồng thu mua xuất khẩu, dùng tay nắm chặt sát gốc chồi măng, nghiêng 30*-45* xoay nhẹ, chồi măng sẽ tách rời khỏi rễ trụ cây măng ở dưới đất rất dễ dàng mà không để lại vết thương, đề phòng nấm bệnh có thể xâm hại bộ rễ cây Măng.











Măng tây xanh ngay sau khi thu hoạch phải đem ngay vào nơi thoáng mát, tránh không để tiếp xúc với ánh nắng, rồi nhanh chóng tiến hành sơ chế phân loại Măng loại 1 và Măng loại 2 theo yêu cầu của đơn vị thu mua: Cắt cỡ, rửa sạch đất, cát (tuyệt đối không được để ướt đầu măng vì nước sẽ làm hỏng lá đài, hỏng chồi măng; nếu lỡ để ướt đầu chồi măng thì phải cố gắng cẩn thận giũ sạch nước đi), xử lý khử trùng qua thuốc tím hoặc nước Ozone, để khô ráo rồi gói bọc đầu chồi măng bằng giấy chuyên dùng hoặc giấy báo sạch để giữ ẩm, cột lại thành bó 250 gr, 500 gr hoặc 1 kg rồi xếp thẳng đứng nhẹ nhàng vào sọt, giỏ nhựa, hoặc thùng xốp. Xong, phải khẩn trương chuyển giao ngay cho đơn vị thu mua trong vòng 2-4 giờ để họ còn kịp thời gian chế biến, bảo quản lạnh và phân phối ra thị trường, hoặc xuất khẩu.

Măng tây xanh nếu chưa kịp sơ chế hoặc sử dụng ngay thì cần phải cắm chân măng vào 3-5 cm nước đá lạnh hoặc đưa vào bảo quản trong tủ mát ở nhiệt độ 2*C sau khi đã giải nhiệt (bằng quạt gió) cho măng.

+ Lưu ý: Chồi măng sau khi thu hoạch nếu cắm vào nước qua đêm có thể sẽ làm phát triển thêm chiều cao mỗi ngày khoảng 1-2 cm và đường kính thân măng sẽ ốm bớt đi khoảng 0,5-1 mm, khoảng 1/2 thân dưới của chồi Măng tây xanh sẽ bị kéo xơ, đồng thời cũng sẽ làm giảm hương vị và chất ngọt đặc trưng của măng.

Nếu để chồi măng tiếp xúc với ánh nắng và xử lý giải nhiệt, kích đông bảo quản lạnh không đúng kỹ thuật bảo quản thực phẩm, Măng tây xanh sẽ bị héo, bị già hóa, có nhiều xơ (xơ hoá), và bị hư hỏng nhanh chóng trong vòng 1-2 ngày, không thể phân phối cho thị trường được.

Cứ thế, tiếp tục khai thác, thu hoạch măng mỗi ngày cho đến hết từng chu kỳ thu hoạch măng 2 hoặc 3 tháng, khi quan sát thấy cây mẹ có dấu hiệu sắp chuyển lá vàng (lão hoá) thì phải ngưng thu hoạch ngay, rồi tiến hành trẻ hoá rẫy măng bằng cách chọn giữ lại 4-6 chồi măng khoẻ mạnh ở mỗi gốc để làm cây mẹ thay thế, bỏ nón chụp đầu chồi măng ra.

Quan sát đến khi thấy cây mẹ thay thế vừa đủ lớn, bắt đầu bung tàn cành lá mới thì tiến hành tỉa bỏ cây mẹ già cũ, cây bị sâu bệnh, cây nhỏ và cành lá phát sinh ở phần gốc khoảng 40-50 cm để thông gió phòng bệnh, xới đất làm sạch cỏ non, đồng thời bón thúc 400 kg NPK 15-15-15, vun đất cao 5-10 cm đậy gốc bảo vệ cổ rễ, giữ cây đứng thẳng, lấy nắng toàn phần quang hợp với bộ lá để tạo năng lượng hữu cơ tổng hợp nuôi dưỡng cây, phun thuốc phòng ngừa nấm bệnh và sâu hại cây, bắt đầu một chu kỳ mới dưỡng cây mẹ thay thế.


b. Phân loại sản phẩm Măng tây xanh:

Đường kính gốc và độ dài chồi măng là tiêu chuẩn phân loại sản phẩm Măng tây xanh xuất khẩu:

- Măng loại 1: Đường kính gốc thân măng >12-25 mm, dài 25 cm, thân thẳng không dị dạng cong vẹo, không sâu bệnh, không có dư lượng thuốc BVTV, đạt tiêu chuẩn rau sạch và an toàn cho người tiêu dùng theo tiêu chuẩn GlobalGAP hoặc VietGAP.

- Măng loại 2: Đường kính gốc thân măng 6-12 mm, dài 22 cm, thân thẳng không dị dạng cong vẹo, không sâu bệnh, không có dư lượng thuốc BVTV, đạt tiêu chuẩn rau sạch và an toàn cho người tiêu dùng theo tiêu chuẩn GlobalGAP hoặc VietGAP.




c. Thu hoạch Măng tây trắng:


Bản thân mầm chồi măng non khi sinh ra từ rễ trụ cây măng dưới mặt đất khởi đầu có màu trắng (Măng tây trắng). Khi trồi lên khỏi mặt đất, nhờ tiếp xúc với tia tử ngoại ánh nắng mặt trời chiếu xạ nên chồi măng chuyển thành màu xanh lục (hiện tượng lục hoá sinh học thực vật trong tự nhiên), trở thành Măng tây xanh.

Từ đặc điểm sinh học này, người trồng có thể thu hoạch sản phẩm Măng tây trắng để làm phong phú mặt hàng phục vụ thị trường tiêu dùng và đóng hộp xuất khẩu bằng cách xử lý lấp đất phủ kín chồi măng hoặc trùm bao nilon đen có tráng màng nhôm (alluminium foil) để ngăn cản ánh nắng mặt trời chiếu xạ vào chồi măng cho đến khi chồi măng đạt độ cao tiêu chuẩn thương phẩm >22-25 cm thì tiến hành thu hoạch lấy sản phẩm Măng tây trắng.

Người trồng cần phải tiến hành việc thu hoạch Măng tây trắng vào lúc sáng sớm khi mặt trời chưa mọc để tránh ánh nắng chiếu xạ thành Măng tây xanh. Măng tây trắng thu hoạch xong cần phải cẩn thận tránh không để tiếp xúc với ánh nắng mặt trời trong suốt quá trình lưu thông phân phối hoặc phải đóng hộp.


+ Chú ý: Sản phẩm Măng tây trắng và Măng tây tím khi qua khâu chế biến thực phẩm, phục vụ ẩm thực sẽ tự động chuyển thành màu xanh trông giống như sản phẩm Măng tây xanh.

11. Dịch bệnh tàn sát cây Măng tây: CÁCH PHÒNG TRỪ SÂU, BỆNH HẠI CÂY MĂNG TÂY


1. Cách phòng, trị bệnh hại cây Măng tây:

a. Nhận diện các loại nấm bệnh, tuyến trùng hại cây Măng tây:

Cây Măng tây nếu chọn được giống tốt, trồng trên vùng đất tơi xốp giàu dinh dưỡng hữu cơ và vi sinh, đã xử lý khử tuyến trùng, nấm bệnh, côn trùng, thế đất cao ráo, tiêu thoát nước tốt, đất và nước tưới bảo đảm độ pH = 6.5-7.5 và không có độc tố kim loại, chăm sóc đúng kỹ thuật, vệ sinh vườn trồng tốt, môi trường thông thoáng, lành mạnh, thì rất ít bị nấm bệnh gây hại, cây sẽ cho năng suất Măng rất cao 20-25-30 tấn/ha/năm, doanh thu khoảng 400-600 triệu đồng/ha/năm.

Tuy nhiên, vào mùa mưa, lúc “trái gió trở trời”, cây Măng tây cũng rất dễ bị nấm bệnh tấn công xâm hại giống như những loại cây trồng khác (con người khoẻ mạnh cũng có thể chết vì dịch bệnh kia mà !).

Khảo sát cây Măng tây trồng ở Việt Nam những năm gần đây thường thấy có các bệnh sau đây:

[01] Thối gốc rễ (do nấm Fusarium: F. Moniliforme, F. Oxysporum f. sp. Asparagi, F. Proliferatum, F. Culmorum, F. Verticillioides, F. Redolens, Gibberella Fujikuroi,…);

[02] Thối gốc rễ (do nấm Phytophthora: Phyt. Megasoerma Drechs; Phyt. Palmivora, Phyt. Capsici, Phyt. Infestans,…);

[03] Thối gốc rễ (do nấm Pythium: P. Arrhenomanes, P. Myriotilum, P. Aphanidermatum, P. Megasperma, P. Debaryanum, P. Ultimum; do nấm Rhizoctonia Solani, Rhizoctonia sp., Zopfila Rhizophila,…);

[04] Thối nhũn vi khuẩn (do nấm Erwinia Carotovora, Sclerotinia Sclerotiorum);

[05] Tuyến trùng nốt sưng (do nấm Meloidogyne Incognita, Meloidogyne Javanica);

[06] Tuyến trùng ngoại ký sinh (do nấm Tylenchorhynchus sp., Xiphinema sp., Pratylenchus sp.);

[07] Rỉ Sắt (do nấm Puccinia Asparagi với 4 loại bào tử Basidiospores, Aeciospores, Urediniospores và Teliospores);

[08] Bạc lá, đốm lá (do nấm Alternaria Alternata, Cercospora Asparagi, Ascochyta Asparagina, Phomopsis Asparagicola, Phomopsis Asparagi, Phomopsis Javanica);

[09] Đốm tím (do nấm Pleospora Herbarum, Stemphylium Vesicarium);

[10] Mốc xám (do nấm Botrytis Cinerea);

[11] Mốc xanh (do nấm Penicillium Aurantiogriseum);

[12] Thán thư (Colletotrichum Gloeosporioides, Colleto. Dematium);

[13] Khô thân cành (do nấm Macrophoma sp.);

[14] Virus (các loại virus Asparagus Virus - AV1, AV2, AV3. AV4; Tobaco Streak Virus - TSV);

[15] Nứt tét gốc, thân (Sinh lý)…

làm cho cây và chồi măng non phát triển kém, kiệt sức dần và chết hàng loạt.
















b. Nguyên nhân gây ra nấm bệnh hại cây Măng tây:

Các nguyên nhân gây ra nấm bệnh riêng lẻ hoặc tổng hợp gồm:

- Cây Măng tây chịu hạn rất tốt trong mùa nắng, nhưng rất dễ bị “sốc” nước trong mùa mưa (tương tự như trẻ con hay bị bệnh nóng, lạnh thất thường hay nhức đầu sổ mũi lúc “trái gió trở trời” !);

- Mật độ trồng dày, mưa nhiều, bộ lá sum suê của cây Măng tây bị nước mưa (kể cả nước tưới) kết dính dễ làm hư thối tạo điều kiện nấm bệnh xâm hại;

- Mưa nhiều, nhất là những lúc mưa to kéo dài nhiều ngày, làm cho ẩm độ không khí và ẩm độ trong chân đất trồng tăng cao, tạo môi trường thuận lợi cho các loại nấm bệnh phát triển; người trồng không kịp thời có biện pháp xới xáo đất, khai thông rãnh thoát, chống úng để chân đất ngập nước và ngậm nước trương nở nén chặt, dư ẩm, đất trồng bị bão hoà làm mất tế khổng (khoảng trống chứa nước và không khí trong đất) và đóng váng bề mặt làm mất dưỡng khí khiến bộ rễ cây Măng tây bị ngộp, mất khả năng trao đổi ion, không hấp thu được dinh dưỡng, úng nước kéo dài khiến bộ rễ bị thối nhũn, cây phát triển kém, dẫn đến mất khả năng cung cấp Măng, vàng lá, héo úa từ từ rồi chết dần, chết dần,…;

- Cây quang hợp kém do trời mưa dầm dề, thiếu nắng kéo dài;

- Đất trồng thiếu dinh dưỡng hữu cơ, và thiếu vôi, làm độ pH đất và nước biến đổi giảm sâu dưới biên độ pH = 4.5 - 5.5, khiến môi trường đất lành mạnh bị đẩy lui, môi trường đất yếm khí phát triển tạo điều kiện cho các loại nấm bệnh (đặc biệt nguy hiểm là tuyến trùng và nấm Phytophthora và Fusarium), virus, vi khuẩn, vi sinh vật xấu phát triển, bao vây xâm hại bộ rễ, cộng hưởng với các loại côn trùng, sâu bọ khác đồng loạt tấn công làm cho bộ rễ bị tổn thương, thối nhũn, khiến cây bị chùn ngọn, cong queo dị dạng, xoắn lá, vàng lá, héo úa, khô thân cành, và chết hàng loạt…;

- Sử dụng phân không đúng cách, không cân đối liều lượng và chủng loại (có khi gặp phân giả); khi thì thiếu hụt và mất cân đối dinh dưỡng, khi thì bón quá nhiều phân hoá học hoặc quá dư thừa đạm hữu cơ gây ngộ độc hữu cơ, sử dụng phân chuồng chưa ủ hoai mục hoặc sử dụng lại các loại phân/giá thể chứa nhiều mầm nấm bệnh như giá thể loại bỏ từ các vườn trồng nấm; hay phủ gốc bằng các loại vật liệu chưa qua xử lý nấm bệnh như trấu, rơm rạ, vỏ cà phê, mùn cưa gỗ cao su, v.v…;

- Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng nguyên tắc “4 đúng”, dùng liều quá thấp hoặc liều quá cao gây ra hiện tượng cây lờn thuốc, làm vô hiệu hoá tác dụng phòng, trị bệnh của thuốc;

- Chăm sóc vườn trồng không đúng yêu cầu kỹ thuật, cắt tỉa cành nhánh bị nấm bệnh bỏ rơi vải trên mặt đất, vệ sinh vườn trồng yếu kém, vườn trồng không thông thoáng, để các loại nấm bệnh phát tán, lây lan tự do trên cây, trên đất trồng mà không có biện pháp ngăn chặn kịp thời (Người trồng phải quyết đoán, phải biết làm “nhà cầm quân độc tài”, phải thẳng tay “xử trảm”, cắt bỏ, cách ly, đưa ra khỏi vườn tiêu huỷ ngay lập tức bất cứ mầm mống nấm bệnh lạ, không bình thường nào vừa mới chớm xuất hiện trên cây hoặc trên đất trồng !).

- Tồn dư các loại nấm bệnh còn lại từ các đợt thu hoạch trước hoặc những năm trước không được xử lý triệt để, nay gặp môi trường thuận lợi nên càng phát triển nhiều hơn, với cấp độ ngày càng cao hơn;

- Môi trường lân cận và xung quanh vườn trồng Măng tây đang có dịch bệnh trên cây trồng làm ảnh hưởng lây lan, việc phòng chữa bệnh phải biết kết hợp tiến hành đồng loạt trong khu vực, nếu chỉ xử lý cục bộ cho từng vườn trồng thì không thể có hiệu quả tốt;

- Cộng với tình trạng thu hoạch cạn kiệt từ nhiều vụ thu hoạch trước khiến cây Măng tây bị suy yếu, suy dinh dưỡng, mất sức đề kháng, lúc này rất dễ bị nấm bệnh tấn công xâm hại;…
Nếu không kịp thời phát hiện sớm và khẩn trương ngăn chặn dịch bệnh ngay từ đầu, để mầm mống và bào tử nấm bệnh phát tán trên cây và đất trồng theo gió, theo nước mưa và nước tưới, thông qua dụng cụ lao động, vết chân giày dép người lạ mang mầm bệnh vào… lây lan nhanh ra cả vườn, rẫy Măng tây sẽ phát sinh nhiều bệnh từ nhẹ đến nặng, rồi trầm trọng mất khả năng kiểm soát, cây sẽ không cho Măng, héo úa suy kiệt dần và chết hàng loạt (phổ biến nhất là các bệnh do virus, vi khuẩn, tuyến trùng, các loại nấm Pythium, Phytophthora và Fusarium làm thối rễ); người trồng hoang mang, mất tinh thần, chán nản, có tư tưởng muốn bỏ cuộc, thụ động xuôi tay không có biện pháp đối phó hay xử lý khiến tình trạng nấm bệnh chết cây càng bi đát hơn !

c. Cách phòng, trị nấm bệnh hại cây Măng tây:

Không giống như các loại rau màu khác, trồng và chăm sóc cây Măng tây thực chất là Trồng và Chăm Sóc Bộ Rễ và Chăm Sóc Đất hoặc Giá Thể trồng cây Măng tây; bộ rễ càng khoẻ mạnh cây càng có năng suất và chất lượng cao. Nói cách khác, công việc của người trồng chủ yếu là những phần việc diễn ra ở dưới mặt đất !

Cách chữa bệnh tốt nhất cho cây Măng tây là Phải Làm Thật Tốt Việc Phòng Bệnh. Cần phải thường xuyên cải tạo môi trường đất trồng cho thật tơi xốp, xử lý triệt để mầm mống tuyến trùng, nấm bệnh và côn trùng hại cây, cung cấp đầy dủ dinh dưỡng hữu cơ và vi sinh, lên luống đất trồng cao ráo nhưng vẫn phải bảo đảm độ ẩm đều đặn trong chân đất đủ 60-70% mùa nắng cũng như mùa mưa (việc tưới nước không quan trọng ở hệ thống tưới kiểu nào mà quan trọng ở cách tưới thế nào để chân đất bảo đảm thường xuyên có đủ ẩm độ 60%-70%); thường xuyên cung cấp cân đối đầy đủ dinh dưỡng và nước tưới có pH = 6.5-7.5 để cây thật sự khoẻ mạnh; thường xuyên kiểm tra rãnh thoát nước cho thật tốt không để đất bị bão hoà do ngậm nước trương nở đất làm mất dưỡng khí và không để nước ngập úng chân đất quá 8-10 giờ/ngày; thường xuyên xới xáo đất, phá váng đóng khằn bề mặt luống trồng để đất có đủ dưỡng khí cung cấp cho rễ; thường xuyên tỉa cây giữ thế “mẹ bồng con” 3-6 cây mẹ + 3-6 chồi măng non khoẻ mạnh ở mỗi gốc Măng và cắt bỏ toàn bộ các cành nhánh nhện từ mặt luống lên cao 50 cm cho vườn trồng thông thoáng; thường xuyên làm cỏ và vệ sinh vườn trồng cho thật tốt, thẳng tay xử lý loại bỏ, cách ly khỏi vườn trồng mọi mầm mống nấm bệnh và tồn dư nấm bệnh ra khỏi vườn trồng; Phải Kiên Quyết Tạm Ngưng Thu Hoạch Khi Đường Kính Thân Măng Đã Nhỏ Hơn <8mm… Để Dưỡng Cây ! Phải nhớ chăm sóc cây Măng tây đúng kỹ thuật hướng dẫn (Măng “tây” không thể chăm sóc theo kiểu “ta” được) và phải thường xuyên làm thật tốt việc phòng bệnh. Khi quan sát thấy nấm, bệnh vừa mới chớm xuất hiện trên cây thì phải khẩn trương cắt tỉa bỏ những phần thân, lá bị bệnh đem ra khỏi vườn đốt tiêu huỷ ngay và tiến hành phun thuốc phòng + trừ nấm bệnh (có thể dùng chung hỗn hợp thuốc phòng bệnh + thuốc chữa bệnh như Metalaxyl (Ridomil, Vilaxyn,…) + Mancozeb; Carbendazim + Sulfur; Fosetyl Aluminium (Aliette, Vialphos,…) + Zineb, v.v...) không để bệnh lây lan ra cả vườn. Phải định kỳ sử dụng thuốc phòng + trừ bệnh như là một công việc chính phải làm cứ mỗi 7-10 ngày/lần, không được lơ là bỏ qua dù với bất cứ lý do gì. Người trồng Măng tây có thể áp dụng các biện pháp xử lý đất sau: 1. Xử lý đất bằng biện pháp hoá học: Có thể dùng Bordeaux (Sunfat Đồng + Vôi), COC-85, Bromua Methyl, Nokaph,… 2. Xử lý đất bằng biện pháp vật lý thông thường: Bổ sung vôi bột và canxi cho đất để tăng độ tơi xốp cho đất; thường xuyên kiểm tra độ pH = 6.5-7.5 trong đất trồng và nước tưới; kiểm tra hàm lượng Clor = <600 mg/1lít nước trong nước tưới và hàm lượng muối EC = <2 milisiemens/cm trong đất. Cũng có thể thường xuyên, định kỳ sử dụng nhiều phân trùn quế, phân hữu cơ, phân chuồng ủ thật hoai mục và các loại chế phẩm Trichoderma, WEHG, SOIL-18, BAEM, Active Cleaner, Komix, Humix, Vôi,… cải tạo đất, ổn định độ pH đất và nước tưới = 6,5 - 7,5; xử lý các loại thuốc diệt tuyến trùng và phòng trừ nấm, bệnh, côn trùng và vi sinh vật hại cây như Đồng đỏ (Norshield), Đồng xanh, Phytocide, Bordeaux, Vimonyl, Sincosin, Agrispon, Amistar Top, Mancozeb, Zineb, Aliette, Ridomil, Anvil, Antracol, Tilt Super, Carbenzim, Starner, Physan, B1, Kasumin, New Kasuran, Validacin, Vialphos, Vilaxyn, Xanthomix, Daconil, Benomyl (Viben-C), và các chế phẩm có gốc đồng,… Thông thường, phân hữu cơ và các loại chế phẩm cải tạo đất có tác dụng giải độc và nâng cao độ pH đất, tạo điều kiện thuận lợi phục hồi các loại vi sinh vật có ích và trùn đất giúp làm tơi xốp đất, đồng thời các loại thiên địch phát triển mạnh khiến các loại virus, vi khuẩn, tuyến trùng, nấm bệnh, côn trùng có hại trong đất và trên cây bị mất môi trường sống, bị suy yếu và bị thiên địch tiêu diệt; tạo điều kiện kích thích phát triển rễ, thân và lá, giúp cây Măng tây miễn nhiễm với các loại nấm bệnh và côn trùng gây hại, giúp cây phát triển cân đối, khoẻ mạnh, sẽ góp phần làm tăng thêm đáng kể năng suất và chất lượng sản phẩm. Thường xuyên dùng phân hữu cơ và chế phẩm sinh học cải tạo đất có thể giảm được 80-90 % lượng phân hoá học và giảm được 80-90% dịch bệnh trên đất trồng Măng tây. Cuối cùng, nếu vườn/rẫy Măng bị bệnh quá nặng không thể khắc phục được thì nên tiến hành cắt bỏ hết cây trên vườn rồi dùng các chế phẩm Đồng đỏ, Clorua đồng, Phytocide, Bordeaux, Trichoderma, WEHG, Active Cleaner, BAEM, SOIL-18,… liều cao để cải tạo lại môi trường đất, bổ sung NPK pha loãng để giúp phục hồi rễ và cây (trong giai đoạn chữa bệnh nên hạn chế dùng phân chuồng vì vô tình có thể đưa thêm nấm bệnh vào đất làm cây bệnh nặng thêm); cuối cùng nếu vẫn không được thì nên tuyển lấy những bộ rễ khoẻ mạnh đem trồng lại trên đất mới đã được cải tạo tơi xốp và cung cấp đầy đủ dinh dưỡng. Nếu đầu tư chăm sóc vườn/rẫy Măng tây với quyết tâm cao; xem việc trồng cây Măng tây là công việc chính nhằm tạo nguồn thu nhập sống chết của gia đình; biết thương yêu quý trọng cây Măng tây như thương yêu quý trọng vợ/chồng mình trong nhà; biết chăm sóc cây Măng tây khẩn trương, đúng mức như chăm sóc đứa con mọn yêu quý của mình lúc trái gió trở trời thì người trồng hoàn toàn vẫn có thể tránh được thiệt hại do nấm bệnh gây ra. Nhờ làm tốt công tác phòng, chữa bệnh, mùa mưa năm nay 2011, trong lúc các địa phương khác mất khả năng cung cấp Măng thì cây Măng tây ở tỉnh Ninh Thuận vẫn phát triển và cung cấp Măng tây xanh đều đặn. Cây Măng tây đã du nhập vào Việt Nam từ những năm 50-60 của thế kỷ trước, đã “định cư” ở xã Bình Phan, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang từ 30-40 năm nay để cắt lấy lá làm kiểng trang trí hoa cắt cành cung cấp cho các chợ hoa đầu mối ở TPHCM như chợ hoa Hồ Thị Kỷ, chợ hoa Đầm Sen, chợ hoa Hậu Giang,… Đã tồn tại và không mất đi trong hơn nửa thế kỷ qua, cây Măng tây hoàn toàn có thể trồng và phát triển rất tốt trong môi trường nhiệt đới ở Việt Nam, tin rằng trong một tương lai không xa nữa, Măng tây sẽ là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kim ngạch cao của Việt Nam. 2. Cách phòng, trừ các loại sâu bọ, côn trùng: Ở nước ngoài, đối với các loại sâu bọ, côn trùng cắn hại cây Măng tây như Armyworms, Asparagus Beetles (bọ Măng tây), Cutworms (sâu ngài đêm), Garden Symphylan, European Asparagus Aphid (rệp vừng châu Âu),… người ta dùng Permithrin 38% là có thể tiêu diệt chúng dễ dàng. Ở trong nước, đối với sâu lông, sâu keo, sâu xanh, sâu đục thân, ốc nhớt,… cắn hại cây Măng tây, có thể dùng các loại chế phẩm Furadan, Basudin, Topsin, Supracide,… Đối với bọ trĩ, rầy mềm, dế nhũi, rệp sáp,... có thể dùng Sagomycine, Confidor, Regent,… và các loại thuốc diệt rầy (các loại sâu bọ côn trùng có thể ăn trụi lá 1 ha Măng tây trong 1-2 ngày!). Nếu vệ sinh vườn kém (để lại tàn dư nấm bệnh từ các chu kỳ thu hoạch trước), lơ là chăm sóc để các loại sâu bọ ẩn nấp cắn hại bộ rễ, hoặc thu hoạch để móng tay va chạm làm trầy xước thân Măng lân cận sẽ làm chồi Măng biến dạng, hình thù cong vẹo, Măng sẽ kém chất lượng và mất giá trị thương phẩm, không thể thu hoạch được. Để phòng trừ có hiệu quả các loại côn trùng, sâu bọ hại cây Măng tây, cần thường xuyên bổ sung đầy đủ và cân đối dinh dưỡng để cây phát triển khoẻ mạnh, vệ sinh chăm sóc vườn trồng thật tốt, nhanh chóng loại bỏ các mầm móng nấm bệnh mới vừa phát sinh, thường xuyên duy trì độ ẩm 60-70% trong chân đất, dùng chế phẩm sinh học cải tạo đất để duy trì pH đất = 6.5-7.5; có thể thường xuyên dùng vôi, Bordeaux, Carbendazim, Mancozeb, Furadan, Basudin, Antracol, dung dịch xà phòng nước, hoặc lá cây thuốc cá giã nhuyễn hoà chung nước tưới vào gốc để khử nấm bệnh, côn trùng và vi sinh vật có hại, tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật hữu ích và trùn đất phát triển, đẩy lùi và cô lập các loại côn trùng và vi sinh vật có hại cho cây. Tài liệu tham khảo:

1. Anonymous. 1960-2000. Agricultural Statistics. USDA. U.S. Government Printing Office, Washington, D.C.
2. Ark, P. A., and Barrett, J. T. 1938. Phytophthora rot of asparagus rot in California. Phytopathology 28:754-756.
3. Bailey, L. H., and Bailey, E. Z. 1976. Hortus Third: A Concise Dictionary of Plants Cultivated in the United States and Canada. MacMillan Publishing Co., New York.
4. Blanchette, B. L., Groth, J. V., and Waters, L., Jr. 1982. Evaluation of asparagus for resistance to Puccinia asparagi. Plant Dis. 66:904-906.
5. Blok, W. J., and Bollen, G. J. 1997. Host specificity and vegetative compatibility of Dutch isolates of Fusarium oxysporum f.sp. asparagi. Can. J. Bot. 75:383-393.
6. Brill, A. B. 1872. Farm Gardening and Seed Growing. Orange Judd Co., New York.
7. Burr, F. 1865. Garden Vegetables and How to Cultivate Them. S. W. Tilton, Boston.
8. Cheah, L-H.; Davis, R.D.2002: New diseases of asparagus-a threat to New Zealand’s biosecurity. N.Z. Plant Prot. 55: 49-52.
9. Cohen, S. I., and Heald, F. D. 1941. A wilt and root rot of asparagus caused by Fusarium oxysporum Schlecht. Plant Dis. Reptr. 25:503-509.
10. Cook, M. T. 1923. Dwarf asparagus. Phytopathology 13:284.
11. Conway, K. E., Motes, J. E., and Foor, C. J. 1990. Comparison of chemical and cultural controls for Cercospora blight on asparagus and correlations between disease levels and yield. Phytopathology 80:1103-1108.
12. Cooperman, C. J., Jenkins, S. F., and Averre, C. W. 1986. Overwintering and aerobiology of Cercospora asparagi in North Carolina. Plant Dis. 70:392-394.
13. Damicone, J. P., Cooley, D. R., and Manning, W. J. 1981. Benomyl in acetone eradicates Fusarium moniliforme and F. oxysporum from asparagus seed. Plant Dis. 65:892-893.
14. Damicone, J. P., and Manning, W. J. 1985. Frequency and pathogenicity ofFusarium spp. isolated from first-year asparagus grown from transplants. Plant Dis. 69:413-416.
15. Damicone, J. P., Manning, W. J., and Ferro, D. N. 1987. Influence of management practices on severity of stem and crown rot, incidence of asparagus miner, and yield of asparagus grown from transplants. Plant Dis. 71:81-84.
16. Davis, R.D. 2001a: Asparagus stem blight recorded in Australia. Aust. Plant Pathology 30” 181-182
17. Doan, M. C., and Carris, L. M. 1998. Characterization of Fusariumpopulations in asparagus fields in the Pacific Northwest. Acta Horticulturae 479:219-226.
18. Elena K.2005. First report of Phomopsis asparagi causing stem blight of asparagus in Greece. New Disease Reports 11, 25.
19. Ellison, J. H., and Kinelski, J. J. 1985. 'Jersey Giant': an all male asparagus hybrid. HortSci. 20:1141.
20. Elmer, W. H. 1991. Vegetative compatibility groups of Fusarium proliferatum from asparagus and comparisons of virulence, growth rates, and colonization of asparagus residues among groups. Phytopathology 81:852-857.
21. Elmer, W. H. 1992. Suppression of Fusarium crown and root rot of asparagus with sodium chloride. Phytopathology 82:97-104.
22. Elmer, W. H. 1995. A single mating population of Gibberella fujikuroi (Fusarium proliferatum) predominates in asparagus fields in Connecticut, Massachusetts, and Michigan. Mycologia 87:68-71.
23. Elmer, W. H. 1995. Association between Mn-reducing root bacteria and NaCl applications in suppression of Fusarium crown and root rot of asparagus. Phytopathology 85:1461-1467.
24. Elmer, W. H., Johnson, D. A., and Mink, G. I. 1996. Epidemiology and management of the diseases causal to asparagus decline. Plant Dis. 80:117-125.
22. Elmer, W. H., and LaMondia, J. A. 1998. Studies on the suppression of Fusarium crown and root rot with NaCl. Acta Horticulturae 479:211-215.
25. Elmer, W. H., and Stephens, C. T. 1988. Comparison of techniques for eliminating contaminants from asparagus seeds. HortScience 23:1031-1032.
26. Elmer, W. H., and Stephens, C. T. 1989. Classification of Fusarium oxysporum f. sp. asparagi into vegetatively compatible groups. Phytopathology 79:88-93.
27. Elmer, W. H., Summerell, B. A., Burgess, L.W., Backhouse, D., and Abubaker, A.A. 1997. Fusarium species associated with asparagus crowns and soil in Australia and New Zealand. Australasian Pl. Path. 26:255-261.
28. Elmer, W. H., Summerell, B. A., Burgess, L. W., and Nigh, E. L. 1999. Vegetative compatibility groups of Fusarium proliferatum from asparagus in Australia Mycologia 91:650-654.
29. Endo, R. M., and Burkholder, E. C. 1971. The association of Fusarium moniliforme with the crown rot complex of asparagus Phytopathology (Abstr.) 61:891.
30. Evans, T. A., and Stephens, C. T. 1988. Association of asparagus virus II with pollen from infected plants. Plant Dis. 72:195-198.
31. Evans, T. A., DeVries, R. M., Wacker, T. L., and Stephens, C. T. 1989. Epidemiology of asparagus viruses in Michigan asparagus. Acta Horticulturae 271:285-290.
32. Evans, T. A., and Stephens, C. T. 1989. Increased susceptibility to Fusarium crown and root rot in virus-infected asparagus. Phytopathology 79:253-258.
33. Falloon, P. G., Falloon, L. M., Benson, B. L., and Grogan, R. G. 1986. Effect of Phytophthora megaspermae var sojae on yield of Asparagus officinalis.Plant Dis. 70:15-19.
34. Falloon, P. G., Falloon, L. M., and Grogan, R. G. 1986. Survey of California asparagus for asparagus virus I, asparagus virus II, and tobacco streak virus. Plant Dis. 70:103-105.
35. Falloon, P. G., Falloon, L. M., and Grogan, R. G. 1987. Etiology and epidemiology of Stemphylium leaf spot and purple spot of asparagus in California. Phytopathology 77:407-413.
36. Falloon, P. G., Fraser, H., and Nikologg, A. S. 1989. Control of Fusarium rot with Thiabendazole. Final Report. Crop Research Division, DSIR, Christchurch, NZ.11p.
37. Falloon, P. G., Greathead, A. S., Mullen, R. J., Benson, B. L., and Grogan, R. G. 1991. Individual and combined effects of flooding, Phytophthora rot, and metalaxyl on asparagus establishment. Plant Dis. 75:514-518.
38. Falloon, P. G., Mullen R. J., Benson, B. L., and Grogan, R. G. 1985. Control of Phytophthora rot with metalaxyl in established asparagus. Plant Dis. 69:921-923.
39. Graham, K. M. 1955. Seedling blight, a fusarial disease of asparagus. Can. J. Bot. 33:374-400.
40. Grogan, R. G., and Kimble, K. A. 1959. The association of Fusarium wilt with the asparagus decline and replant problem in California. Phytopathology 49:122-125.
41. Halstead, B.D. 1898. The asparagus rust: Its treatment and natural enemies. NJ Agr, Exp. Sta. Bull. 129 20p.
42. Hartung, A. C., Stephens, C. T., and Elmer, W. H. 1990. Survey ofFusarium populations in Michigan's asparagus fields. Acta Horticulturae 271:395-401.
43. Hausbeck, M. K., Hartwell, J., and Byrne, J. M. 1997. Epidemiology of Stemphylium leaf spot in no-till asparagus. Acta Horticulturae 479:205-210.
44. Hepler, P. R., Thompson, A. E., and McCallum, J. P. 1957. Inheritance of resistance to asparagus rust. Illinois Agric. Exp. Stn. Bull. 607. 47 p.
45. Inglis, D. A. 1980. Contamination of asparagus seed by Fusarium oxysporum f. sp. asparagi and Fusarium moniliforme. Plant Dis. 64:74-76.
46. Jasper, M. V., and Falloon, P. G. 1999. Asparagus virus 2: A contributing factor in asparagus decline. Acta Horticulturae 479:263-270.
47. Johnson, D. A. 1986. Two components of slow-rusting in asparagus infected with Puccinia asparagi. Phytopathology 76:208-211.
48. Johnson, D. A. 1989. Variation for rust resistance within asparagus cultivars. Plant Dis. 73:309-312.
49. Johnson, D. A. 1990. Development of rust on asparagus cultivars after inoculation with basidiospores, aeciospores, and urediniospores of Puccinia asparagi. Phytopathology 80:321-325.
50. Johnson, D. A. 1990. Effect of crop debris management on severity of Stemphylium purple spot of asparagus. Plant Dis. 74:413-415.
51. Johnson, D. A. 1992. Asparagus Rust. Coop. Ext. Wash. State Univ. EB 1656. 4 p.
52. Johnson, D. A., and Lunden, J. D. 1986. Effects of wounding and wetting duration on infection of asparagus by Stemphyllium vesicarium. Plant Dis. 70:419-420.
53. Johnson, D. A., and Lunden, J. D. 1992. Effect of rust on yield of susceptible and resistant asparagus cultivars. Plant Dis. 76:84-86.
54. Johnson, D. A., and Peaden, R. N. 1993. Rust resistance in asparagus F1hybrid populations. Plant Dis. 77:1144-1148.
55. Johnston, S. A., Springer, J. K., and Lewis, G. D. 1979. Fusarium moniliforme as a cause of stem and crown rot of asparagus and its association with asparagus decline. Phytopathology 69:778-780.
56. Kahn, R. P., Anderson, H. W., Hepler, P. R., and Linn, M. B. 1952. An investigation of asparagus rust in Illinois, its causal agent and its control. Illinois Agric. Exp. Stn. Bull. 559. 59 p.
57. Lacy, M. L. 1979. Effects of chemicals on stand establishment and yields of asparagus. Plant Dis. Rept. 63:612-616.
58. Lacy, M. L. 1982. Purple spot: a new disease of young asparagus spears. caused by Stemphylium vesicarium. Plant Dis. 66:1198-1200.
59. La Mondia, J. A., and Elmer, W. H. 1989. Pathogenicity and vegetative compatibility among isolates of Fusarium oxysporum and F. moniliformecolonizing asparagus tissues. Can. J. Bot. 67:2420-2424.
60. Madden, L., Pennypacker, S. P., and McNab, A. A. 1978. FAST: a forecast system for Alternaria solani on tomato. Phytopathology 68:1354-1358.
61. Manning, W. J., and Vardaro, P. M. 1977. Soil fumigation and preplant fungicide crown soaks: Effects on plant growth and Fusarium incidence in newly planted asparagus. Plant Dis. Rept. 61:355-357.
62. Meyer M. P., Hausbeck, M. K., and Podolsky, R. 2000. Optimal fungicide management of purple spot of asparagus and impact on yield. Plant Dis. 84:525-530.
63. Mink, G. I. 1992. Ilarvirus vectors. Adv. Dis. Vec. Res. 9:267-281.
64. Mink, G. I. and Uyeda, I. 1977. Three mechanically transmitted viruses isolated from asparagus in Washington. Plant Dis. Rept. 61:398-401.
65. Nigh, E. L.1990. Stress factors influencing Fusarium infection in asparagus. Acta Horticulturae 271:315-322.
66. Nigh, E. L. 1999. The explosion of new asparagus production worldwide and what it means. Acta Horticulturae 479:11-15.
67. Norton, J. B. 1913. Methods used for breeding asparagus for rust resistance. U.S. Bur. Plant Ind. Bull. 263.
68. Putnam, A. R., and Lacy, M. L. 1977. Asparagus management with no-tillage. MI State Univ. Agric. Exp. Sta. Res. Rep. 339.
69. Ruldolph, W. 1927. Influence of salt upon the growth rate of asparagus. Bot. Gaz. 83:94-98.
70. Shelton, D. R., and Lacy, M. L. 1980. Effect of harvest duration and yield depletion of storage carbohydrate in asparagus roots. J. Am. Soc. Hort. Sci. 105:332-335.
71. Schofield, M. 1946. Asparagus, past and present. Food Manufacture 21:443-445.
72. Stone, G. E., and Chapman, G. H. 1908. Report of the botanist. MA Agr. Exp. Sta. 20:127.
73. Uecker F.A., Johnson D.A., 1991. Morphology and taxonomy of species of Phomopsis on Asparagus. Mycologia 83, 192-199.
74. Uyeda, I., and Mink, G. I. 1981. Properties of asparagus virus II, a new member of the ilarvirus group. Phytopathology 71:1264-1269.
75. Wade H.E. 2001. Seeds as Vehicles for Pathogen Importation. Biological Invasions, Volume 3, Number 3, Pages 263-271.
76. Walker, E. 1905. Asparagus and salt. AK Agric. Exp. Stn. Bull. 86:31-36.
77. White, N. N. 1868. Gardening for the South. Orange Judd. Co., New York.
78. Wilcox-Lee, D. 1987. Soil matrix potential, plant water relations and growth in asparagus. HortSci 22:22-24.
79. Yang, H. 1979. Early effects of viruses on the growth and productivity of asparagus plants. HortSci. 14:734-735.
80. Gsts Ngô Thị Kim Xuyên, Ks Lê Hồng Triều, Ths Phạm Việt Cường, Ks Dương Đức Hiếu. “Bệnh thường thấy trên cây Măng tây – 2010”.



12. CẦN THẬN TRỌNG KHI CHỌN GIỐNG TRỒNG CÂY MĂNG TÂY XANH



Các nước tiên tiến sản xuất hạt giống Măng tây như thế nào ?

Ở Châu Âu cũng như ở Hoa Kỳ, quy trình sản xuất hạt giống cây Măng tây thường được thực hiện trong điều kiện nhà kính hoàn toàn sạch bệnh. Các Công ty và các nhà khoa học sản xuất hạt giống Măng tây thường chọn lưu giữ cho riêng mình một cây Măng cha (male) và một cây Măng mẹ (femal) khoẻ mạnh, sạch bệnh, kháng nấm bệnh tốt để làm cây giống đầu dòng rồi dùng công nghệ sinh học phân tử phối hợp gien sản xuất ra giống lai đầu dòng F1 khoẻ mạnh, sạch bệnh, có khả năng kháng nấm bệnh rất cao.

Các hạt giống này sau đó được đưa qua "máy soi" để phân loại các hạt giống nữ (femal) vốn có năng suất Măng thấp (vì cây phải tiêu tốn một phần năng lượng để sản xuất ra hoa và trái) để cung cấp cho người chuyên làm giống và các hạt giống nam (male) vốn có năng suất Măng rất cao để cung cấp cho người trồng cây lấy Măng. Mỗi đời giống như vậy có thể tồn tại vài năm đến hàng chục năm với những tên gọi khác nhau tuỳ theo mỗi nhà sản xuất đặt tên: Washington, Apollo, UC-72, UC-157, Grande, Atlas, Jersey, Vitalim, Vegalim, Grolim,...

Khởi đi từ Địa Trung Hải, Châu Âu và Hoa Kỳ, hạt giống Măng tây toả đi khắp nơi đến 60-70 quốc gia trồng cây Măng tây; rồi từ những nơi này họ lại tiếp tục chọn hạt làm giống lai đời F2, F3, Fn... và cũng bán đi khắp nơi trên thế giới từ hàng chục năm qua mà ngày nay chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy các loại hạt giống Măng tây của châu Âu, của Tây Ban Nha, Pháp, Peru, Ấn Độ, Úc, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc,... ai cũng nói đó là giống F1 đầu dòng, kỳ thực không ai có thể phân biệt được đâu là giống đầu dòng, đâu là giống đã lai tạo mới F2, F3, Fn,... tuỳ niềm tin vào nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp !

Ngoài các loại giống đã có từ lâu như "WASHINGTON" (Martha Washington, Mary Washington,...) ra đời từ thập niên 1940-1950 ; các giống của Tập đoàn "LIMSEEDS B.V." (Gijnlim, Vegalim, Grolim, Thielim,...) trồng thích hợp ở vùng khí hậu ôn đới bán từng hạt có giá rất cao (Giống Măng tây xanh Gijnlim F1, Vegalim F1 giá 1.000 euro = # 27.000.000 đồng / 20.000 hạt trồng được 1 ha; Giống Măng tây trắng Grolim F1, Vitalim F1 giá 2.800 euro = # 75.000.000 đồng / 20.000 hạt trồng được 1 hecta - tỉ giá 27.000 đ/euro); các giống "JERSEY" của Trường Đại học RUTGERS & Tập đoàn Jersey Asparagus Farms, Inc. (ra đời từ thập niên 1980) trồng thích hợp ở vùng khí hậu nhiệt đới: Các giống Jersey F1 (Jersey Knight, Jersey Supreme, Jersey King,...) có giá # 25.000.000 đồng / pound = >20.000 hạt trồng được 1 hecta (Giá FOB 700-900 usd / 20.000 hạt + 100 USD Phí kiểm dịch + 350 USD Cước vận chuyển CIF - tỉ giá 18.000 đ/USD tháng 12/2009),...

Sau khi tìm hiểu và tham khảo ý kiến các nhà chuyên môn, chúng tôi mạnh dạn đề xuất:

- Ở các tỉnh phía Bắc KHÍ HẬU LẠNH nên sử dụng các loại giống của tập đoàn LIMSEEDS B.V. (Hà Lan);

- Ở các tỉnh phía Nam KHÍ HẬU ẤM ÁP nên sử dụng giống "WASHINGTON”; giống "JERSEY” của Trường Đại học Rutgers & Tập đoàn Jersey Asparagus Farms, Inc. (ra đời từ thập niên 1980) và các loại giống “CALIFORNIA" của Trường Đại học California & Tập đoàn California Asparagus Seed and Transplants, Inc. (ra đời từ thập niên 1980) trồng thích hợp ở vùng khí hậu nhiệt đới nhiệt độ bình quân 25*C-33*C có giá thành dễ chịu hơn hiện đang phổ biến rộng rãi trên thế giới như:

- Giống Măng tây xanh GRANDE F1 (trọng lượng 32 gram/cọng măng dài 23cm, đường kính >10mm), kháng nấm bệnh rất cao.
- Giống Măng tây xanh ATLAS F1 (trọng lượng 28 gr/cọng măng dài 23cm, đường kính >10mm), kháng nấm bệnh rất cao.
- Giống Măng tây xanh UC-157 F1 (25 gr/cọng măng dài 23cm, đườngkính >10mm), kháng nấm bệnh rất cao.
- Giống Măng tây tím PURPLE PASSION F1 (trọng lượng 35 gr/cọng măng dài 23cm, đường kính >10mm), ra đời từ những thập niên đầu thế kỷ 20, kháng nấm bệnh rất cao.

Các loại HẠT GIỐNG F1 bao giờ cũng kháng bệnh tốt hơn, chất lượng và năng suất cao hơn các loại HẠT GIỐNG F2 khoảng 20-25%.

Ở Việt Nam, nếu có nhu cầu, người trồng cũng có thể tách bộ rễ cây Măng F1 có 1-2-3 năm tuổi đời làm thành 2-3 bộ rễ giống mới có ít nhất >20 cọng rễ và >5-10 nốt sần là mầm chồi non trên lưng bộ rễ để nhân thêm diện tích trồng cây Măng tây mà không cần đầu tư chi phí mua thêm hạt giống mới. Nhưng người trồng cần phải thật sự cẩn thận khi tách chiết bộ rễ cây Măng tây để làm Rễ giống, bởi vì nếu làm tổn thương bộ rễ, thay đổi đột ngột môi trường sống xấu hơn và điều kiện dinh dưỡng kém hơn thì tỉ lệ hao hụt sẽ lên rất cao: 40-60%, có khi lại không có hiệu quả kinh tế bằng ươm cây giống từ hạt !

Người trồng không nên dùng hạt trái chín của các dòng cây Măng tây từ đời F2, F3, F4,… trở về sau để làm giống lai tạp trồng cây lấy sản phẩm Măng tây xanh vì các đời cây sau này sẽ cho Măng có đường kính thân Măng nhỏ dần và rất nhỏ (khoảng <2-3-4 mm), không có giá trị thương phẩm để thu hoạch, hiệu quả kinh tế rất kém.

Tuy nhiên, người trồng cây rau Măng tây vẫn có thể tận dụng hạt giống các đời cây F2, F3, F4,… để trồng cây với mục đích cắt lấy lá Măng làm kiểng (còn gọi là cây Dương, cây Liễu) để bán kèm với hoa cắt cành như bà con nông dân xã Bình Phan, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang và nhiều địa phương khác đã làm từ những năm 1990 đến nay, hiện cho thu nhập kinh tế cũng khá cao (thị trường TPHCM 2009, tuỳ buổi chợ: 10.000 - 15.000 - 20.000 đ/kg kiểng lá Măng).

Tác giả thành mong mọi người góp ý, giúp phổ biến miễn phí tài liệu này đến cộng đồng nhằm mục đích xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống hiện còn rất thiếu thốn của bà con nông dân Việt Nam. Ước mong một ngày không xa nữa, thị trường tiêu thụ nội địa sẽ được mở rộng, rồi tiến tới là thị trường xuất khẩu, đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia xuất khẩu Măng tây hàng đầu trên thế giới...

Viết xong ngày 19-08-2008 – Hiệu chỉnh ngày 03-02-2010

Ks LÊ HỒNG TRIỀU – Tel: 0902.764.677 – 0984.617.637 - 0972.541.919
[ASPIMEX CO. LTD. & VIỆT HOA MỸ CO. LTD. – Tel: 0937.968.919 – 0988.549.919]
Website: www.mangtayxanh.vn - www.mangtayxanh.com.vn – www.asparagus.com.vn
Website: www.viethoamy.com - www.papercubvhm.com
Email: hongtrieu.hcmc@gmail.com - aspimex.hcmc.vn@gmail.com




@ ĐỊA CHỈ TƯ VẤN KỸ THUẬT TRỒNG, CUNG CẤP GIỐNG,
VÀ MUA BÁN SẢN PHẨM MĂNG TÂY:

CÔNG TY TNHH SX & TM VIỆT HOA MỸ
520-524, Lê Văn Khương, Phường Thới An, Quận 12, TPHCM
Tel: (08) 6276.2347 / Fax: (08) 3597.7195
Giám đốc: Cô NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
Tel: 0988.549.919 / 0937.968.919
Email: thanhxuan@viethoamy.com.vn / info@viethoamy.com

CÔNG TY TNHH XUẤT NHẬP KHẨU MĂNG TÂY XANH
769/192, Phạm Thế Hiển, Phường 4, Quận 8, TPHCM
Tel/Fax: (08) 6263.0569
Giám đốc: Ks LÊ HỒNG TRIỀU
Tel: 0984.617.637 - 0902.764.677 - 0972.541.919 - 0909.674.469
Email: hongtrieu.hcmc@gmail.com / aspimex.hcmc.vn@gmail.com